So
với tổng số khoảng 4,7 triệu học sinh phổ thông và sinh viên các trường Đại học
và Cao Đẳng ở nước ta hiện nay thì số lượng khoảng 60.000 du học sinh Việt Nam
tại các cơ sở đào tạo nước ngoài (trong đó ở Australia có 15.000, ở Mỹ có
13.000, và ở Pháp có 7.000) chỉ chiếm một tỉ lệ khá thấp. Mỹ là nước thứ hai
trên thế giới có số du học sinh Việt Nam theo học nhiều nhất. Năm 2009,
Việt Nam
trở thành quốc gia đứng thứ 9 trên thế giới về số lượng du học sinh tại Mỹ.
1.
Hệ thống giáo dục đại học ở Mỹ dân chủ và tiên tiến bậc nhất trên thế giới. Tôi
có những buổi học 4 môn liên tục từ 11 giờ trưa tới 5 giờ chiều mà chỉ được
nghỉ 15 phút để chạy từ giảng đường này sang giảng đường khác, ăn đồ ăn nhanh ở
trong lớp thường là giải pháp cho các bữa trưa của tôi. Không những được phép
ăn uống, mà tôi còn có thể nhắn tin bằng di động hay dùng máy tính xách tay
trong lớp. Không có chuyện giáo sư gọi sinh viên trả lời như một điều trừng
phạt khi sinh viên đang suy nghĩ đâu đó. Sinh viên chúng tôi được tranh luận
thẳng thắn mà không bị đánh giá thái độ mỗi khi phản bác ý kiến của thầy cô.
Một
điều hết sức bình thường ở Mỹ là giáo sư vui vẻ cảm ơn mỗi khi sinh viên chỉ ra
điểm sai trong bài giảng. Tôi thậm chí có lần còn được cộng điểm vì chỉ ra được
những lỗi như thế. Thế mới hiểu tại sao sinh viên Mỹ có phong cách rất tự tin,
vì họ nhận được sự khuyến khích thực sự từ các thầy cô mỗi khi phát biểu, ngay
cả việc yêu cầu giáo sư nhắc lại câu vừa mới nói. Ngoài giờ học chính thức, các
giáo sư thường dành khoảng 2- 4 tiếng mỗi tuần để sinh viên có thể dễ dàng tới
trao đổi hay giải đáp thắc mắc ở văn phòng riêng của họ. Sinh viên cũng có thể
học qua gia sư của từng môn học. Đây là những bạn học sinh giỏi của các lớp
trước được nhà trường thuê và trả lương khoảng $9/giờ, 10 giờ một tuần.
Một
điều khác làm cho nhiều du học sinh bỡ ngỡ đó là không có sự phân biệt về tuổi
tác trong lớp học. Tôi có cậu bạn học cùng lớp tiếng Anh trong kỳ đầu tiên 28
tuổi và có những bạn trong lớp năm thứ ba nếu so về số tuổi có lẽ nhiều gấp đôi
của tôi. Ngay cả học sinh cấp ba ở Mỹ cũng không tuân theo chuẩn mực đứng lên
chào khi thầy cô bước vào và ra khỏi lớp. Sinh viên được nhận kết quả thi tuyệt
đối riêng tư. Nếu không hỏi nhau thì bạn bè không ai biết kết quả của ai. Việc
học là cho mình chứ không phải học vì nỗi sợ bị bạn bè đánh giá. Ở Mỹ, phụ
huynh chỉ có quyền biết điểm của con mình nếu như họ là người đóng tiền học cho
con họ.
2. Chương trình học ở đại học Mỹ linh hoạt hơn ở ta. Sinh viên được chọn môn,
chọn thầy, và chọn giờ học theo ý mình. Tôi có một cô bạn nhà ở cách trường một
tiếng lái xe nên học dồn tất cả các lớp học vào ba ngày đầu tuần. Tôi đã từng
bất ngờ khi cô giáo hỏi có những ai đi làm thêm trong giảng đường hơn 200 sinh
viên năm thứ nhất, thì có tới 3/4 lớp tôi giơ tay lên. Thậm chí, tôi có cô bạn
vừa đi học 5 môn một kỳ vừa đi làm 32 tiếng một tuần.
Mặc
dù học sinh phải đăng ký ngành học ngay từ khi vào trường, nhưng sinh viên có
thể thay đổi ngành học trong hai năm đầu mà hầu như không ảnh hưởng đến thời
gian tốt nghiệp. Sinh viên chọn ngành Văn học vẫn có thể chuyển sang nghành
Kiểm toán chẳng hạn. Trong 2 năm đầu tiên, hầu hết chương trình của các ngành
đều giống nhau. Tất cả sinh viên bất kể chuyên ngành nào, dù Kiểm toán hay Văn
học, đều phải hoàn tất chương trình cơ bản trong hai năm đầu với nhiều môn trên
nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên (Toán, Lý, Hóa, Sinh), khoa học xã hội
(Lịch sử, Xã hội học, Chính trị), Tiếng Anh (học lối viết trong nghiên cứu),
đến các lớp như Âm nhạc hay Sân khấu. Đương nhiên là sinh viên được quyền chọn
môn học mình yêu thích trong số những nhóm môn ấy. Chương trình đại học được
thiết kế trong vòng 4 năm, nhưng vì học theo tín chỉ nên sinh viên có thể học
nhiều lớp trong hai kỳ chính cũng như có thể học cả ba kỳ hè để rút ngắn thời gian
học.
3.
Về cách dạy ở trường đại học Mỹ, không bao giờ có tình trạng thầy đọc trò chép.
Thầy cô trình chiếu bài giảng hoặc phát bài rồi nói về những vấn đề đó. Những
điều cần giải thích thêm thầy cô mới ghi lên bảng. Sinh viên có thể lên website
của thầy cô xem lại bài trình chiếu để bổ trợ trong quá trình tự học. Thời khóa
biểu được phát đầu kỳ, và các bài giảng cứ thế răm rắp tuân thủ theo từ tuần
đầu tiên đến tuần cuối cùng. Và đặc biệt các giáo sư rất đúng giờ, hầu như họ
đều vào lớp trước giờ học, khó có thể tìm được buổi học nào mà thầy cô lên lớp
muộn, dù là chỉ một phút.
4.
Điều khác biệt nữa là cách thức đánh giá sinh viên. Ở Mỹ trong một kỳ, một sinh
viên thông thường học 5 môn. Mỗi môn có từ 3 đến 6 bài kiểm tra, với phần trăm
điểm được phân bố. Kỳ vừa rồi với 5 lớp học, tuần nào tôi cũng có ít nhất một
bài kiểm tra như thế, có tuần có tới 4 bài kiểm tra, bài viết phải nộp, và bài
thuyết trình trên lớp. Còn ở Việt Nam, nếu như không có kiểm tra giữa
kỳ thì chỉ có duy nhất một bài kiểm tra cuối kỳ. Như vậy là sinh viên ở Mỹ phải
học liên tục, chứ không như ở Việt Nam, lịch thi tạo điều kiện cho sinh viên có
thể thong dong đầu kỳ rồi cuối kỳ học gấp rút trong vài ba ngày cho bài thi
cuối kỳ rồi cũng xong. Và tất nhiên, kiến thức được xây dựng từ bài cơ bản đến
bài nâng cao như mưa dầm thấm đất, sinh viên sẽ nắm được vấn đề một cách chắc
chắn.
Hơn
nữa, ngoài các bài kiểm tra, có môn tôi còn phải làm bài trắc nghiệm trong vòng
15 phút trên mạng hàng tuần. Hay có lớp cứ hai tuần có một bài về nhà trên
mạng, tôi lại phải dành ra khoảng 4 tiếng để hoàn thành 30-50 câu hỏi trắc nghiệm.
Học ở Mỹ, tôi phải viết rất nhiều. Nhiều khi tôi phải tự tìm chủ đề và tìm tài
liệu tham khảo trong thư viện. Có những bài dài đến gần 30 trang. Đặc biệt,
sinh viên có thể bị đánh trượt nếu phạm lỗi đạo văn, dù chỉ là lỗi sao chép
trong một bài luận.
5.
Ở Mỹ mỗi trường đại học có cả hàng chục đến cả trăm hội sinh viên chứ không
phải mỗi trường chỉ có một vài hội sinh viên như ở Việt Nam. Nếu sinh
viên muốn tham gia tình nguyện thì có thể tham gia chương trình tình nguyện của
rất nhiều câu lạc bộ sinh viên. Có câu lạc bộ về chuyên nghành (như Tài chính,
Kiểm toán, Kinh tế học, Hóa học, Công nghệ thông tin), về văn hóa (hội sinh
viên các quốc gia và vùng lãnh thổ), hay về giải trí (Nhiếp ảnh, Bóng bàn, Cờ
vua). Bên cạnh đó có rất nhiều lớp học ngoại khóa (Yoga, nhảy Latin).
Hoạt
động của các câu lạc bộ trong trường đại học Mỹ rất năng động. Tham gia hoạt
động ngoại khóa giúp tôi học hỏi nhiều điều trong cách giao tiếp. Năm ngoái,
tôi từng được gặp thị trưởng thành phố tôi đang học trong một buổi trò chuyện
do hội sinh viên nghành Tài chính của trường tổ chức. Mới cách đây 2 tuần, tôi
lại cùng với thành viên hội này được đến thăm quan chi nhánh ngân hàng Frost
National Bank ở trung tâm thành phố của tôi. Trong buổi đó, chúng tôi được giao
lưu với chủ tịch, phó chủ tịch, cũng như nhiều trưởng các bộ phận trong ngân
hàng như đầu tư, tín dụng, và quỹ. Thậm chí, sau khi qua hai lớp cửa an toàn,
những sinh viên chúng tôi còn được tận mắt nhìn thấy kho tiền của ngân hàng.
Nói
thêm về chuyến tham quan này, tôi là thành viên trong ban quản trị của hội và
là người chịu trách nhiệm tổ chức buổi thăm quan này. Một lần tình cờ khi nói
chuyện với giáo sư, tôi đề đạt nguyện vọng của hội muốn tìm hiểu cách thức hoạt
động của một ngân hàng trong thành phố, thầy tôi vui vẻ mở facebook của thầy và
gửi tin nhắn cho một sinh viên cũ của thầy đang làm việc tại ngân hàng. Vài
tuần sau đó, sau cuộc gọi điện của thầy tôi, chỉ hai ngày sau anh sinh viên cũ
gửi chương trình buổi thăm quan kèm theo ngày giờ cụ thể qua thư điện tử cho tôi.
Sự nhiệt tình của thầy tôi, tinh thần trách nhiệm của anh sinh viên cũ của
thầy, và sự thân thiện của các nhân viên trong ngân hàng đã khiến tôi, một sinh
viên quốc tế, không khỏi ngỡ ngàng.
Sau
chuyến thăm quan ngân hàng Frost National Bank, hãy cùng tôi ngẫm nghĩ phép so
sánh nho nhỏ sau: công ty có vốn hóa lớn nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam
hiện nay là ngân hàng Vietcombank có tổng tài sản (12,7 tỷ USD) chỉ bằng khoảng
2/3 tổng tài sản của ngân hàng Frost National Bank (17,7 tỷ USD) - ngân hàng lớn
nhất ở tiểu bang Texas, Mỹ. Chúng ta đi sau cả về kinh tế và giáo dục. Như một
quy luật trong cuộc thi chạy đường trường, một khi ta xuất phát sau thì ta phải
tăng tốc, và tốc độ phải nhanh hơn đối thủ đằng trước thì ta mới có cơ về đích
trước.
Được
tiếp cận với nền giáo dục chất lượng cao ở Mỹ như vậy, liệu sẽ có bao nhiêu du
học sinh dũng cảm quay về Việt Nam sau khi tốt nghiệp, áp dụng những kiến thức
tiên tiến vào tình hình riêng của nước ta, để nghĩ lớn và làm lớn?
Nguồn: VnExpress